Tìm hiểu thuốc
Vàng đắng

Vàng đắng(Coscinium fenestratum)

Tóm tắt nhanh

Tác dụng:Tính vị, tác dụng: Rễ và thân đều có vị đắng, tính mát, có tác dụng kháng sinh, tiêu viêm và bổ đắng.
Chỉ định:Nhân dân thường dùng thân và rễ cây làm thuốc hạ nhiệt, chữa sốt rét, chữa lỵ, đau mắt, dùng dạng thuốc bột hay thuốc viên, ngày uống 4 – 6g.Dùng làm ...
Chống chỉ định:Phụ nữ có thai.
Dạng bào chế:Nguyên liệu làm thuốc

LƯU Ý QUAN TRỌNG

Đây là công cụ Demo hỗ trợ tìm hiểu và nhận biết về thuốc, không phải thông tin y khoa chính thống không thay thế chỉ định của bác sĩ.
Tuyệt đối không tự ý dùng thuốc nếu không có chỉ định hoặc tư vấn từ bác sĩ, dược sĩ có chuyên môn.

Dựa trên dữ liệu tổng hợp, Vàng đắng được sử dụng trong khoảng 9 nhãn hiệu thuốc trên thị trường, điển hình như: Threepharco, Ðại mộc hoàng threepharco, Carbomina, Carbopaine, Barinet, Filazym Q10, Baberin BM, Đại tràng K9, Carbo Threepharco Dược phẩm quận 3.

Cây vàng đắng là một loại dây leo to, có phân nhánh, leo lên những cây gỗ cao. Thân hình trụ, dài tới 10-15m, đường kính 1,5 – 10cm. Thân to, màu vàng, thân già màu ngà, xù xì, có đoạn có chỗ u phình to tròn và mắt (vết tích cuống lá);. Vỏ thân nứt nẻ, màu xám trắng. Cành non, mặt dưới lá, cụm hoa và quả có phủ một lông mền màu trắng bạc. Lá đơn, nguyên, mọc so le, có cuống, hình tim, đầu lá thuôn nhọn, gân lá hình chân vịt, mặt trên lá màu xanh lục. Phiến dài 12-25cm, rộng 5-16cm, gân gốc 5; cuống lá dài 4-14cm, phình và cong ở gốc, hơi đính vào trong phiến lá. Hoa: cụm hoa là chùm xim trên thân già, dài 2-4cm; hoa nhỏ, đơn tính, bao hoa có 6 phiến, hoa đực có 6 nhị; hoa cái có nhị lép, bầu có 3 lá noãn, có lông. Quả: quả hạch hình cầu, đường kính 2-2,5cm. Mùa hoa, quả: tháng 1-5.Bộ phận dùng:Thân và rễ - Caulis et Radix Coscinii Fenestrati.Nơi sống và thu hái:Loài của miền Ấn Độ, Malaixia, phân bố ở Gia Lai, Kon Tum, Lâm Ðồng và các tỉnh phía Nam nước ta. Có thể thu hái thân, rễ quanh năm, thái nhỏ phơi hoặc sấy khô.Thành phần hóa học:Chủ yếu là berberin, saponin, thân chứa berberin có tỷ lệ tới 3,5%, ceryl alcohol, hentriacontane, sitosterol, acid palmitic và oleic, glucosid sitosterol, saponin và vài chất nhựa. Ở nước ta trong thân và rễ cây có alcaloid berberin với tỷ lệ 1,5-3%.

Thuốc gốc là gì? Thuốc gốc là thành phần quan trọng nhất trong thuốc — chính hoạt chất này giúp điều trị bệnh. Nhiều loại thuốc khác nhau trên thị trường có thể chứa cùng một hoạt chất nhưng mang tên gọi khác nhau. Khi biết được hoạt chất trong thuốc, bạn sẽ hiểu rõ thuốc mình đang dùng có tác dụng gì và cần lưu ý những gì.

SuckhoeAI - Bản thử nghiệm