Tìm hiểu thuốc
Quế nhục

Quế nhục(Cinnamomum cassia Presl)

Tóm tắt nhanh

Tác dụng:Ấm dạ dày, trừ lạnh, bổ trung ích khí, hoạt huyết thư cân, giải biểu thông mạch, sát khuẩn giảm đau.
Chỉ định:- Ðau dạ dày và đau bụng, tiêu chảy.- Choáng, cảm lạnh, buốt các ngón tay chân.- Ho hen, đau khớp và đau lưng.- Bế kinh, thống kinh.- Huyết áp cao, tê...
Chống chỉ định:- Âm hư, nội nhiệt không dùng. - Phụ nữ có thai dùng với sự chỉ dẫn của thầy thuốc.
Dạng bào chế:Nguyên liệu làm thuốc

LƯU Ý QUAN TRỌNG

Đây là công cụ Demo hỗ trợ tìm hiểu và nhận biết về thuốc, không phải thông tin y khoa chính thống không thay thế chỉ định của bác sĩ.
Tuyệt đối không tự ý dùng thuốc nếu không có chỉ định hoặc tư vấn từ bác sĩ, dược sĩ có chuyên môn.

Dựa trên dữ liệu tổng hợp, Quế nhục được sử dụng trong khoảng 81 nhãn hiệu thuốc trên thị trường, điển hình như: Cồn xoa bóp đa dụng An Triệu, Thập toàn đại bổ Vinaplant dạng hoàn mềm, Thập toàn đại bổ A.T, Cồn xoa bóp Jamda, Ðại bổ thận khí tinh, Ðại bổ thận khí đơn, Hoàn thập toàn đại bổ - HT, Tráng dương kiện thận tinh, Đại bổ DHĐ, Tê thấp cốt thống thuỷ, Cồn xoa bóp An phúc bình, Thập toàn đại bổ Planmaxton, Hoàn bổ Thận dương, Dưỡng tâm an thần PV, Phong tê thấp HT dạng cao lỏng.

Quế nhục là vỏ thân, cành của Quế, cây thân gỗ cao 10-15m, phân cành nhiều, có vỏ dày và sù sì. Lá mọc đối, hình trái xoan thuôn, nguyên, nhọn, dài 10-18cm, rộng 4-5cm, có 3 gân chính rõ. Cụm hoa là những xim có hoa đều, màu trắng, đế hoa dạng chén, trên mép chén dính các mảnh bao hoa và các nhị; bầu 1 ô chứa 1 noãn ở gốc đáy chén. Quả mọng, dài 1-1,5cm, màu đen. Quế ra hoa tháng 1-3, quả tháng 8-9.Phân bố:Ở nước ta, Quế mọc hoang và được trồng từ Nghệ An trở vào Côn Sơn, Phú Quốc. Ngoài ra, quế còn phân bố ở Tây Ấn Ðộ, Xri Lanca và được trồng ở nhiều xứ nhiệt đới khác.Mô tả Dược liệu:Vị thuốc Quế nhục là vỏ thân hoặc vỏ cành đã chế biến khô của cây (Cinnamomum cassia Presl.); hoặc một số loài Quế khác (Cinnamomum sp.). Đó là những mảnh vỏ dày 1 mm trở lên, dài 50cm, thường cuộn tròn thành ống. Mặt ngoài màu nâu đến nâu xám, có các lỗ vỏ và vết cuống lá. Mặt trong màu nâu hơi đỏ đến nâu sam, nhẵn. Quế rất dễ bẻ gãy, vết bẻ có màu nâu đỏ, có ít sợi tơ. Dược liệu Quế nhục có mùi thơm đặc trưng, vị cay, ngọt.Thu hái,sơ chế: Vỏ thân, cành, thu hái vào mùa hạ, mùa thu. ủ hoặc để nguyên cho khô dần ở chỗ râm mát, thoáng gió. Có thể cất lấy tinh dầu.Bộ phận dùng, bào chế: Thân được cắt vào thời kỳ nóng nhất, loại bỏ vỏ khi bắt đầu vào thu, phơi khô dưới nắng và cắt thành lát mỏng hay cạo sạch lớp vỏ thô, rửa sạch, thái phiến, phơi trong râm cho khô hoặc tán bột.Tính vị: Cay, ngọt và tính nóng.Qui kinh: Vào kinh thận, tỳ, tâm và can.Thành phần hóa học:Vỏ giàu tanin (5%) và chứa tinh dầu (1,2-1,5%) nhưng tinh dầu lại giàu aldehyd cinnamic (80,85%). Không có eugenol nhưng có một lượng nhỏ acid cinnamic, acetat cinnamyl và o-methoxycinnamaldehyd; còn có cinnzeylanol, cinnzeylanin.

Thuốc gốc là gì? Thuốc gốc là thành phần quan trọng nhất trong thuốc — chính hoạt chất này giúp điều trị bệnh. Nhiều loại thuốc khác nhau trên thị trường có thể chứa cùng một hoạt chất nhưng mang tên gọi khác nhau. Khi biết được hoạt chất trong thuốc, bạn sẽ hiểu rõ thuốc mình đang dùng có tác dụng gì và cần lưu ý những gì.

SuckhoeAI - Bản thử nghiệm