Tác dụng:Giống như chloroquine, piperaquine được cho là hoạt động bằng cách tích lũy trong không bào tiêu hóa ký sinh trùng và can thiệp vào việc giải độc heme...
Chỉ định:Piperaquine được sử dụng kết hợp với dihydroartemisinin để điều trị sốt rét.
Chống chỉ định:Không sử dụng piperaquine trong bệnh nhân với QT kéo dài bẩm sinh hoặc những người đang dùng các thuốc khác kéo dài khoảng QT.
LƯU Ý QUAN TRỌNG
Đây là công cụ Demo hỗ trợ tìm hiểu và nhận biết về thuốc, không phải thông tin y khoa chính thống và không thay thế chỉ định của bác sĩ. Tuyệt đối không tự ý dùng thuốc nếu không có chỉ định hoặc tư vấn từ bác sĩ, dược sĩ có chuyên môn.
Dựa trên dữ liệu tổng hợp, Piperaquin được sử dụng trong khoảng 15 nhãn hiệu thuốc trên thị trường, điển hình như: CV 8, Obelix, Artemisinin 250mg, Falcidin, Arterakine dạng viên nén bao phim, CV Artecan OPC, Co-Dipe, Artemisinin stada 250mg, Viên sốt rét CV 8, Arterakine dạng bột pha hỗn dịch uống, Artemisinin stada 500mg, CV Artequick Viên sốt rét, Diperaquin, Artemisinin, Abarex.
Piperaquine là một thuốc sốt rét cổ điển dạng bisquinoline, được tổng hợp lần đầu tiên vào những năm 1960 và sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc để dự phòng và điều trị trong 20 năm đến. Một số nhóm nghiên cứu Trung Quốc trình bày thuốc này có hiệu quả tốt, dung nạp thuốc tốt hơn chloroquine trong việc điều trị sốt rét do P.falciparum và P.vivax; Với sự phát triển của các dòng ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum kháng piperaquine và sự xuất hiện các dẫn suất artemisinin được áp dùng đầu những năm 1980. Tuy nhiên, trong suốt thập kỷ tới, piperaquine lại được các nhà khoa học Trung Quốc khám phá lại và xem như là một hợp chất thích hợp khi kết hợp cùng artemisinin và dẫn suất. Phối hợp hopự lý trong các hợp chất thuốc sốt rét dựa trên nền artemisinine của piperaquine (Artemisinin combination therapies_ACTs); là để cung cấp các thuốc sốt rét liệu trình điều trị ngắn, rẻ tiền, có hiệu lực cao, dung nạp thuốc tốt và sẽ làm giảm lan truyền, đồng thời bảo vệ chống lại sự phát triển kháng thuốc của ký sinh trùng. Tiếp cận mới và những khám phá này gần đây đã được Tổ chức y tế thế giới (WHO) công nhận. Các ACT có piperaquine (Piperaquine-based ACT) bắt đầu được thử nghiệm và đánh giá hiệu lực với các thuốc như China-Vietnam 4 (CV4) gồm có dihydroartemisinin `DHA` + trimethoprim + piperaquine phosphate + primaquine phosphate), tiếp đó là thuốc CV8 (thành phần tương tự như CV4 nhưng tăng hàm lượng), Artecom (bỏ bớt thành phần primaquine) và Artekin hoặc Duo-Cotecxin (chỉ có DHA + piperaquine phosphate). Các nghiên cứu gần đây ở Đông Dương xác định hiệu lực lâm sàng tuyệt vời của phối hợp “piperaquine-DHA” (tỷ lệ chữa khỏi sau theo dõi 28 ngày > 95%) và cho phác đồ khuyến cáo hiện tại không có liên quan đến độc tính tim mạch hoặc một số tác dụng phụ khác nghiêm trọng.
Thuốc gốc là gì? Thuốc gốc là thành phần quan trọng nhất trong thuốc — chính hoạt chất này giúp điều trị bệnh. Nhiều loại thuốc khác nhau trên thị trường có thể chứa cùng một hoạt chất nhưng mang tên gọi khác nhau. Khi biết được hoạt chất trong thuốc, bạn sẽ hiểu rõ thuốc mình đang dùng có tác dụng gì và cần lưu ý những gì.