Tìm hiểu thuốc
Idarucizumab

Idarucizumab

Tóm tắt nhanh

Chỉ định:Là thuốc hóa giải đặc hiệu của dabigatran, được chỉ định cho bệnh nhân đã điều trị bằng Pradaxa (dabigatran) khi cần hóa giải nhanh tác dụng chống đôn...
Dạng bào chế:Dung dịch tiêm/truyền 50 mg/mL

LƯU Ý QUAN TRỌNG

Đây là công cụ Demo hỗ trợ tìm hiểu và nhận biết về thuốc, không phải thông tin y khoa chính thống không thay thế chỉ định của bác sĩ.
Tuyệt đối không tự ý dùng thuốc nếu không có chỉ định hoặc tư vấn từ bác sĩ, dược sĩ có chuyên môn.

Idarucizumab là một thuốc hóa giải tác dụng đặc hiệu của dabigatran. Thuốc là một đoạn kháng thể đơn dòng của người (Fab); gắn với dabigatran với ái lực rất cao, gấp khoảng 300 lần ái lực liên kết của dabigatran với thrombin. Phức hợp idarucizumab- dabigatran có đặc tính tốc độ liên kết nhanh và tốc độ tách rời rất chậm tạo nên một phức hợp rất bền vững. Idarucizumab có khả năng gắn mạnh và đặc hiệu với dabigatran và các chất chuyển hóa của nó, do đó trung hòa tác dụng chống đông của các thuốc này.Các thử nghiệm lâm sàngBa nghiên cứu lâm sàng pha I ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược trên 283 người (224 bệnh nhân được điều trị bằng idarucizumab) được thực hiện để đánh giá độ an toàn, hiệu quả, khả năng dung nạp, dược động học và dược lực học của idarucizumab, dùng đơn độc hoặc sau khi dùng dabigatran etexilat. Quần thể nghiên cứu bao gồm người khỏe mạnh và những người này được chia thành nhóm quần thể đặc trưng theo tuổi, cân nặng, chủng tộc, giới tính và suy thận. Trong các nghiên cứu này, liều của idarucizumab dao động từ 20 mg đến 8 g và thời gian truyền dao động từ 5 phút đến 1 giờ.Giá trị đặc trưng cho các thông số dược động học và dược lực học được thiết lập dựa trên nhóm người khỏe mạnh tuổi từ 45-64 tuổi dùng 5 g idarucizumab (xem mục Dược động học và Dược lực học).Một nghiên cứu tiến cứu, nhãn mở, không phân nhóm ngẫu nhiên, không có đối chứng (RE-VERSE AD) đã được thực hiện để đánh giá điều trị cho bệnh nhân người trưởng thành điều trị bằng dabigatran có chảy máu đe doạ tính mạng hoặc không kiểm soát được (nhóm A) hoặc những bệnh nhân cần phẫu thuật cấp cứu hoặc thủ thuật khẩn cấp (nhóm B). Tiêu chí chính là phần trăm hóa giải tối đa tác dụng chống đông của dabigatran trong vòng 4 giờ sau khi dùng idazucirumab, dựa trên sự xác định thông số xét nghiệm chính thời gian pha loãng Thrombin (dTT) hoặc thời gian đông máu Ecarin (ECT). Tiêu chí đánh giá phụ chính là phục hồi sự cầm máu.RE-VERSE AD bao gồm dữ liệu của 503 bệnh nhân: 301 bệnh nhân có tình trạng chảy máu nặng (nhóm A), 202 bệnh nhân có yêu cầu thủ thuật/phẫu thuật khẩn cấp (nhóm B). Xấp xỉ một nửa số bệnh nhân của mỗi nhóm là nam giới. Độ tuổi trung bình là 78 và độ thanh thải creatinine trung bình là 52,6 mL/phút. Xấp xỉ 61,5% bệnh nhân trong nhóm A và 62,4% bệnh nhân trong nhóm B đang được điều trị với dabigatran 110 mg hai lần mỗi ngày.Tác dụng hóa giải chỉ đánh giá được trên những bệnh nhân có thời gian đông máu kéo dài trước khi điều trị với idarucizumab. Phần lớn bệnh nhân, ở cả nhóm A và B cho thấy tác dụng chống đông của dabigatran được hóa giải hoàn toàn (dTT: 98,7%; ECT: 82,2%; aPTT: 92,5% theo thứ tự trên các bệnh nhân có khả năng đánh giá được) trong 4 giờ đầu sau khi dùng 5g idarucizumab. Tác dụng hóa giải xuất hiện ngay sau khi dùng thuốc.Sự cầm máu được khôi phục ở 80,3% bệnh nhân chảy máu nghiêm trọng có thể đánh giá và cầm máu đạt hoàn toàn được quan sát thấy trên 93,4% bệnh nhân có yêu cầu thủ thuật khẩn cấp.Tổng số 503 bệnh nhân, 101 bệnh nhân tử vong; mỗi một trường hợp tử vong có thể được cho là do biến chứng của biến cố chính hoặc có liên quan với các bệnh kèm theo. Biến cố huyết khối được báo cáo ở 34 bệnh nhân (23 trên 34 bệnh nhân không sử dụng thuốc chống đông tại thời điểm xảy ra biến cố) và tại mỗi trường hợp, biến cố huyết khối có thể do tình trạng bệnh lý đi kèm của bệnh nhân. Các triệu chứng nhẹ của quá mẫn tiềm ẩn (sốt, co thắt phế quản, tăng thông khí, phát ban hoặc ngứa) đã được báo cáo. Chưa thiết lập được mối liên hệ nhân quả với idarucizumab.

Thuốc gốc là gì? Thuốc gốc là thành phần quan trọng nhất trong thuốc — chính hoạt chất này giúp điều trị bệnh. Nhiều loại thuốc khác nhau trên thị trường có thể chứa cùng một hoạt chất nhưng mang tên gọi khác nhau. Khi biết được hoạt chất trong thuốc, bạn sẽ hiểu rõ thuốc mình đang dùng có tác dụng gì và cần lưu ý những gì.

SuckhoeAI - Bản thử nghiệm