Tác dụng:Thanh nhiệt, tiêu viêm, sát trùng. Palmatin có tác dụng ức chế đối với các vi khuẩn đường ruột.
Chỉ định:Làm giảm viêm, chữa viêm ruột, viêm bàng quang, viêm gan, đau mắt, mụn nhọt, sốt nóng, kiết lỵ, hồi hộp, mất ngủ. Làm nguyên liệu chiết palmatin.
Chống chỉ định:Bệnh thuộc hàn không nên dùng.
Dạng bào chế:Nguyên liệu dùng làm thuốc
LƯU Ý QUAN TRỌNG
Đây là công cụ Demo hỗ trợ tìm hiểu và nhận biết về thuốc, không phải thông tin y khoa chính thống và không thay thế chỉ định của bác sĩ. Tuyệt đối không tự ý dùng thuốc nếu không có chỉ định hoặc tư vấn từ bác sĩ, dược sĩ có chuyên môn.
Dựa trên dữ liệu tổng hợp, Hoàng đằng được sử dụng trong khoảng 15 nhãn hiệu thuốc trên thị trường, điển hình như: Ðại tràng hoàn A.C.P, Chính khí hoàn-KG, Đại tràng hoàn K/H, Vị khí chỉ Thống hoàn, Tiềm Long, Đại tràng hoàn - NB, Hoàn tiêu viêm, Trừ phong sát độc hoàn, Thanh tràng chỉ tả, Tràng vị hoàn Naphar, Ðại tràng hoàn, Đại tràng hoàn T/H, Ðại tràng hoàn B/L, Tiêu phong nhuận gan số 40, Hoàng đằng OPC.
Hoàng đằng là dây leo to có rễ và thân già màu vàng. Lá mọc so le, dài 9-20cm, rộng 4-10cm, cứng, nhẵn; phiến lá bầu dục, đầu nhọn, gốc lá tròn hay cắt ngang, có ba gân chính rõ, cuống dài, hơi gần trong phiến, phình lên ở hai đầu. Hoa nhỏ, màu vàng lục, đơn tính, khác gốc, mọc thành chuỳ dài ở kẽ lá đã rụng, phân nhánh hai lần, dài 30-40cm. Hoa có lá đài hình tam giác; hoa đực có 6 nhị, chỉ nhị hơi hẹp và dài hơn bao phấn; hoa cái có 3 lá noãn. Quả hạch hình trái xoan, khi chín màu vàng. Mùa hoa tháng 5-7. Địa lý:Cây của vùng Đông Dương và Malaixia, mọc hoang ở ven rừng, nơi ẩm mát. Gặp nhiều từ Nghệ An vào tới các tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam bộ.Thu hái, sơ chế: Rễ và thân cây vào tháng 8-9, cạo sạch lớp bần bên ngoài, chặt từng đoạn, phơi khô hay sấy khô.Bộ phận dùng: Vị thuốc là thân già và rễ phơi khô của cây Hoàng đằng Mô tả Dược liệu:Vị thuốc Hoàng đằng là những đoạn thân và rễ hình trụ thẳng hoặc hơi cong, dài 10 - 30 cm, đường kính 1 - 3 cm, có khi tới 10 cm. Mặt ngoài màu nâu có nhiều vân dọc và sẹo của cuống lá (đoạn thân); hay sẹo của rễ con (đoạn rễ). Mặt cắt ngang có màu vàng gồm 3 phần rõ rệt: phần vỏ hẹp, phần gỗ có những tia ruột xếp thành hình nan hoa bánh xe, phần ruột ở giữa tròn và hẹp; thể chất cứng, khó bẻ gãy, vị đắng.Tính vị: Vị đắng, tính hànQuy kinh: Vào kinh tâm, đại trường, can, vịThành phần hoá học: Alcaloid (3%), chủ yếu là palmatin 1-3,5% ngoài ra còn có jatrorrhizin, columbamin và berberin.
Thuốc gốc là gì? Thuốc gốc là thành phần quan trọng nhất trong thuốc — chính hoạt chất này giúp điều trị bệnh. Nhiều loại thuốc khác nhau trên thị trường có thể chứa cùng một hoạt chất nhưng mang tên gọi khác nhau. Khi biết được hoạt chất trong thuốc, bạn sẽ hiểu rõ thuốc mình đang dùng có tác dụng gì và cần lưu ý những gì.